THỜI GIAN LÀ VÀNG!

BÁO MỚI

WEB QUAN TÂM.

Tài nguyên dạy học

Sắp xếp dữ liệu

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • ĐỌC BÁO HÀNG NGÀY.

    Chào mừng quý vị đến với XUÂN ĐÀN - TOÁN - PHẦN MỀM.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > GÓC RIÊNG TƯ > CHO NGƯỜI CAO TUỔI >

    Càn Khôn Thập Linh

     

    Càn Khôn Thập Linh Part 1

    Càn Khôn Thập Linh Part 2
    Càn Khôn Thập Linh Part 3
    THAY HANG TRUONG - CAN KHON THAP LINH - HOUSTON

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Xuân Đàn @ 11:06 19/03/2010
    Số lượt xem: 2087
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Càn Khôn Thập Linh
    Avatar
    Thầy Hằng Trường dùng một con vật để tượng trưng cho mỗi thế tập.

    1- Thế thứ 1: Càn hay là Trời, là Dương. Vận chuyển nhịp nhàng để phát sinh năng lượng từ vùng đan điền phía trước, mạng môn phía sau giúp luân chuyển kích thích các luân xa dọc theo xương sống. Từ đó sức đề kháng của cơ thể mạnh khoẻ hơn để có thể hành hóa giúp đời.

    2- Thế thứ 2: Thế con Cóc ở xương cụt (S5), huyệt Trường Cường. Con cóc ở đáy giếng nhảy ra khỏi miệng giếng ý nghĩa là vượt ra màng vô minh. Luân xa số 1 này liên hệ đến thận và bộ phận sinh dục. Tác dụng có thể làm tăng hệ thống miễn nhiễm.

    3- Thế thứ 3: Thế con Trâu (Luân xa 2) huyệt Mạng môn (L2). Luân xa này nằm ở vị trí L2 sau lưng (Mạng môn), tương ứng với vùng đan điền phía trước. Chân con trâu dính bùn, là dính với dục lạc thế gian có thể được chuyển hóa tích cực, bỏ bớt tham đắm ngũ dục để buông xả, mở rộng cõi lòng. Ðan điền là nơi tập trung khí huyết quan trọng mà các thiền sư đưa khí vào với hơi thở để điều hòa năng lượng toàn thân.

    4- Thế thứ 4: Thế con Hạc (Luân xa 3). Luân xa này nằm ở vị trí D9 (cân súc) ở đốc mạch tương ứng với huyệt thượng quản (solar plexus) ở nhâm mạch. Hạc là con vật bay bổng trong bầu trời bao la, không gian thênh thang có ý nghĩa là khiêm cung, bao dung tha thứ chứ không còn ích kỷ, hẹp hòi bởi cái ngã. Thế tập con hạc giúp quân bình chức năng của gan, lá lách, tụy tạng.

    5- Thế thứ 5 và 6: Thế con Rồng và Phượng Hoàng (Luân xa 4). Luân xa này nằm ở vị trí D5 (thần đạo) ở đốc mạch tương ứng trước với huyệt tử cung (19) ở trước ngực, nhâm mạch. Long Phụng biểu hiện 2 thái cực Dương và Âm. Con rồng là cực dương tượng trưng cho cứng rắn. Con hạc là cực âm tượng trưng cho sự mềm mỏng uyển chuyển. Thế con rồng giúp ta chặt đứt được cái ngã to lớn như núi tu-di (luân xa 3) thấy được chân tâm bản tánh để rồi bay lượn lên cõi thiên, thênh thang, tự do. Về sinh lý học, thế này giúp ta điều hòa hệ thống tuần hoàn tim mạch. Con phượng có tác dụng chế ngự con rồng, mềm mại, uyển chuyển, nuôi dưỡng và nâng đỡ sức mạnh của rồng. Thế con rồng giúp diệt ngã, thế con phượng mang lại năng lực của từ bi. Luân xa thứ 4 này quan trọng vì vị trí nằm giữa bảy luân xa 3 ở trên và 3 ở dưới.

    6- Thế thứ 7: Thế con Cọp (Luân xa thứ 5) Luân xa này nằm ở vị trí C7-8 tương ứng với tuyến giáp trạng ở cổ họng. Ái ngữ, truyền thông tốt đẹp, sáng tạo, hợp nhất trung đạo là ý nghĩa của thế tập này. Con cọp phải được huấn tập để vượt ra khỏi rừng rậm rối ren, nghĩa là vượt tất cả khái niệm. Thế tập này tạo ra nhiều năng lượng nên đòi hỏi thiền sinh cần tu tập hành thiền giỏi.

    7 - Thế thứ 8: Con Bươm Bướm: (Luân xa thứ 6) Luân xa này nằm ở con mắt thứ 3, giữa 2 chân mày tương ứng với tuyến tùng trong não. Thân con bươm bướm tượng trưng cho dục lạc thế tục, 2 cánh bướm tượng trưng cho tinh thần bay bổng tự do, không còn bị ràng buộc, nhẹ nhàng siêu thoát. Thiền sinh cần có khả năng chánh niệm và định cao để đưa thân tâm về một mối. Ðạo Phật thường nói đến tam giới, thì luân xa số 1,2,3 là dục giới, 4,5,6 là sắc giới, luân xa số 7 là vào được cõi vô sắc giới.

    8 - Thế thứ 9: Con Rùa: (ở đỉnh đầu, huyệt bá hội) Tương ưng với tuyến yên trong não. Rùa là con vật có thể ở trên cạn hay lặn vào biển sâu. Năng lượng của thế này có thể giúp lưu chuyển từ luân xa số 1 lên số 7 hay ngược lại. Ðó là hạnh của Bồ-tát Ðại-thừa tự giác giác tha, bất nhị, là trí tuệ bát-nhã, là đại từ, đại bi.

    9- Thế thứ 10: Ðất là âm. Thế này nhu mì, mềm dịu, bất nhị vượt ra khỏi sinh tử. Ðiều đáng chú ý, là vận chuyển tay chân, hơi thở... đều phải ăn khớp với mỗi động tác. Mỗi thế đều có một khẩu quyết (bài kệ) riêng biệt có ý nghĩa sâu xa rút từ lời dạy của Ðức Phật làm cho người tập vừa được sức khỏe, vừa được hiểu rõ giáo lý, rủ bỏ lo âu phiền não để được an lạc hạnh phúc. Hơi thở vào của mỗi thế thường được đưa vào ngay luân xa tương ứng phía trước. "Tẩy trừ phiền não, Buông xả vạn duyên, Khai mở tâm lượng, Trở về nhà Phật" là một trong 10 khẩu quyết điển hình khi tập thế con trâu.

    Ngoài 10 thế Càn Khôn Thập Linh còn có 10 thế dưỡng sinh thập huyền cho người trên 60 tuổi, cũng như những thế yoga, các pháp môn thiền định, khai mở trí tuệ, tâm linh cho các lớp cao cấp, cho các thiền sinh đã làm chủ được thân và tâm...
    Avatar
    Sau mỗi lần tập đủ các thế, Thầy chú trọng đến Thiền buông thư, nằm thư giãn từng bắp thịt từ đầu đến chân, buông xả các vọng tưởng. Thiền sinh có thể quán tưởng đến những bộ phận bị đau yếu trong cơ thể bị tan rã hòa vào lòng đất, rồi quán tưởng một năng lượng khỏe mạnh của vũ trụ đi vào trị liệu các bộ phận già nua bệnh hoạn đó. Vì vậy người tập cảm thấy thoải mái từ thể xác đến tinh thần. Thầy cho biết nhiều bệnh nan y như cao máu, tiểu đường... đã được giảm rất nhiều sau một thời gian chuyên cần tập luyện.

    Ðiều mới lạ tiếp theo mà tôi muốn ghi lại đây là phương pháp Thiền Trà: Uống trà, kiến tánh rất đặc biệt, đầy sáng tạo của Thầy. Cũng phải phước duyên lắm mới vào được lớp này, vì chỉ thu gọn vỏn vẹn 40 người thì chỉ 20 người được trực tiếp thực tập.

    Chúng tôi yên lặng ngồi trên bồ đoàn và được Thầy giảng giải:

    Chén trà đại biểu cho thân thể. Trà biểu tượng cho tâm, có thể là vọng tâm hay bồ-đề tâm. Vọng tâm là khi tâm khởi lên đủ loại vọng tưởng. Bồ-đề tâm tức là tâm hướng thượng. Khi bồ-đề tâm hiện khởi là lúc tâm thanh tịnh.

    Chén trà trống rỗng, không có trà, có nghĩa là thân tâm rỗng rang. Chén có trà biểu hiện lúc tâm đã sinh thành, có thể là vọng hay thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh sáng suốt là lúc bồ-đề tâm hiện ra. Khi uống trà, mình với chân tâm hợp nhất thành một mối nhất như.

    Theo định nghĩa của Thầy thì Thiền Trà là cách uống trà theo lối thiền và trà thiền có nghĩa là hành thiền lúc uống trà. Nghi thức thiền trà có 4 giai đoạn:

    1- Chiếu tâm: Soi chiếu tự tâm trước khi uống.

    2- Thấy tâm: Là kết quả của chiếu tâm, nhận được chủ thể bản ngã.

    3- Hiện tâm: Tức là ảnh hiện tâm mình trong chén trà.

    4- Nhất tâm: Tức là lúc trà khách uống trà.

    Nếu trà khách tự biết mình có vọng tâm thì đẩy chén trà ra xa trước mặt mình. Nếu trà khách biểu hiện được chân tâm thì để nguyên chén trà tại chỗ. Trà sư sẽ rót trà đậm có mùi vị quyến rũ cho người có vọng tâm, và trà lạt có mùi thanh nhẹ cho người biểu hiện được chân tâm. Thầy cho phép thực tập lần thứ 2 như trên để trà khách có cơ hội thêm một lần nữa, có ý rằng trên đời, chuyện gì cũng có một cơ hội thứ 2, không phải tuyệt đối hay tuyệt vọng. Thầy nhấn mạnh rằng uống trà là trực nhận trạng thái của tâm ngay trong một hớp trà. Ðối tượng của sự trực nhận là gì, hoặc là vọng tâm, bồ-đề tâm hay chân tâm, điều đó không quan trọng bằng chính sự trực nhận. Vì sao? Vì trực nhận chính là Thiền. Do vậy, dùng động tác uống trà để xoay tâm trực nhận bản tánh, đó tức là Thiền trà. Chúng tôi hy vọng sẽ được thực tập nhiều lần. Ít ra cũng nếm được mùi trà trong bầu không khí đạo vị bình an của thân và tâm dù trà có đậm đặc ngọt ngào, nghĩa là còn đầy vọng tưởng.
    Avatar
    Buổi tập luyện vào ngày cuối nhằm ngày đi làm việc tại trường đại học Nova/Annandale cũng thu hút hơn 300 người đến tham dự. Nhận thấy người lớn tuổi chiếm trên 60% nên Thầy chuyển qua dạy môn "Dưỡng Sinh Thập Huyền" tương đối nhẹ nhàng hơn dành riêng cho người trên 60 tuổi.

    Thế thứ nhất có ý nghĩa là “Ẩn ác, Dương thiện” chỉ nghĩ và nói đến những điều tốt của kẻ khác.

    Thế thứ 2 có ý nghĩa là quên khá khứ vui hiện tại.

    Thế thứ 3 có ý nghĩa là bỏ gánh nặng, sống thung dung. Ðồng hồ đã điểm một giờ chiều không cho phép tiếp tục sử dụng căn phòng nữa, nên tất cả mọi người đều theo Thầy ra công viên Great Falls, picnic theo chương trình dự định. Nào chụp hình kỷ niệm, nào chuyện trò, nào ca hát, hò lơ, hò hụi của giáo sư Kim Oanh. Thầy và đại chúng tận hưởng gió thu xào xạc lá vàng rơi mát mẻ chan hòa nắng ấm giữa bầu trời bao la bát ngát, rì rào thác nước hùng vĩ sủi bọt trắng xoá xối xả xuyên vách đá nhỏ to tô sắc điểm phấn thêm cho vẻ đẹp muôn màu thiên nhiên nhiệm mầu. Ôi là hạnh phúc tuyệt vời.

    Ba ngày sinh hoạt trôi qua nhanh chóng, tưởng là đã qua. Nhưng phước duyên nào tự nhiên đến. Ngày tiếp theo, trong lúc các huấn luyện viên du ngoạn vùng thủ đô thì Bác sĩ Hưng cùng chị Ngọc, chị Châu và vợ chồng chúng tôi được Thầy ưu ái tiếp chuyện. Hơn cả giờ đồng hồ, Thầy đặc biệt tận tình dạy cho chúng tôi 2 thế con Trâu và con Rồng với hơi thở khác với trong DVD có diệu dụng chữa trị các mạch máu tim bị nghẽn. Buổi cơm trưa dưới nắng thu ấm áp trên bãi cỏ xanh với các món ăn đậm đà do cô Nguyệt nấu nướng đem tới kéo dài đến xế chiều thật là ngon miệng. Thầy không dùng cơm tối nên buổi ăn trưa là buổi ăn chính.

    Qua những lời trò chuyện Thầy cho biết Thầy đã có duyên với Phật pháp từ lúc còn trẻ, lúc “Bọ” của Thầy đau ốm ở Saigon. Người dân xứ Huế thời 1950-60 ít ai mà không biết “Bọ” của Thầy, Bs. Lê Khắc Quyến, khoa trưởng đầu tiên của Ðại học Y khoa Huế, một lương y mát tay, yêu nước thương nòi. Trong những ngày buồn tẻ sau 75, Thầy đã có duyên đọc tạng Ðại Bi Kinh ở tuổi 14. Năm 20 tuổi Thầy xuất gia ở Vạn Phật Thành với HT. Thích Tuyên Hóa, một thiền sư chứng đắc lỗi lạc, đệ tử truyền thừa của ngài Hư Vân.

    Sau hơn 10 năm làm thị giả cho ngài Tuyên Hóa, Thầy gặp một tai nạn, bị khiển trách nặng nề, chỉ vì một nhân viên quản lý dưới quyền điều khiển của Thầy, vi phạm luật lệ hành chánh. Trong suốt 3 tháng trời Thầy phải quỳ 8 giờ một ngày trước đại chúng để nhận các lời khiển trách có khi rất là thậm tệ. Cái ngọn núi tu-di “ngã” của Thầy nhờ được thế đã được dùi mài khá phẳng phiu.

    Sau tai nạn khủng khiếp ấy Thầy ra khỏi chúng và có cơ hội nhập thất 3 năm tại Haiwai để xiển dương kinh Hoa Nghiêm. Ðó là thể nguyện ước mong của Thầy đã được ngài Tuyên Hóa chấp nhận trước đó vài năm. Vì vậy Thầy cho đó là một nghịch tăng thượng duyên đã được ngài Tuyên Hóa vạch định sẵn. Thầy trưởng thành mạnh mẽ nhờ nghịch duyên đó. Một đôi khi có ý nghĩ thiếu chánh niệm thì cell phone của Thầy bỗng reo lên vô cớ mà Thầy cho rằng ngài Tuyên Hóa vẫn còn hiện diện sát cạnh Thầy để nhắc nhở và sách tấn.

    Năm 2002, Thầy sáng lập hội Từ Bi Phụng Sự (CSS: Compassionate Service Society) hiện phát triển rất mạnh qua những công tác xã hội từ thiện của Thầy ở các nước vùng Ðông Nam Á. Thầy đã đích thân đến Sri Lanka để cứu trợ kịp thời những nạn nhân của thiên tai tsunani 3 năm trước. Thầy là một trong 3 sáng lập viên Tĩnh Tâm viện Hana ở Maui, Haiwai mục tiêu là mời các lãnh tụ tôn giáo trên thế giới đối thoại, tạo sự hài hòa cảm thông giữa các văn hóa dị biệt.

    Chữ Ce đặt trước tên Hằng Trường chỉ là thu gọn tên của Thầy "Trường hay Tràng" mà người tàu đọc là: Chang". Thầy lấy chữ C của "Chang" và thêm chữ "e" nhỏ bên cạnh cho dễ đọc.

    Trong chuyến đi thăm Lộc Uyển - San Diego ngày 7 tháng 9 năm 2007 về, Thầy không ngần ngại khẳng định với đại chúng và học trò của Thầy rằng sư ông Làng Mai là một vị Ðại Bồ-tát mà có người cả trăm năm hay ngàn năm sau mới nhận rõ. Trong đoạn đường hoằng dương của Thầy cũng gặp nhiều chống đối phỉ báng đủ điều. Lập hạnh bồ-tát thì phải biết an nhiên tự tại, thỏng tay vào chợ. Thầy nói: Nhiều người mê muội cố chấp đến nổi Bồ-tát Quán Thế Âm ngồi bên cạnh mà không biết.

    Nếu không biết đem đạo Phật nhập thế thích nghi với trào lưu tiến hóa nhanh chóng của nhân loại thì đạo Phật cũng sẽ chỉ phục vụ cho những người mê tín dị đoan, những người chỉ biết cầu xin bái sám.

    Ở nước ngoài, pháp môn "Hiện pháp lạc trú", "Tịnh độ bây giờ và ở đây" của sư ông Làng Mai và của sư ông Kim Sơn - San Jose, trung tâm Phổ Từ Hayward và một vài nơi ít ỏi là đáp ứng được bộ óc khoa học hiện đại của con người trong chiều hướng tâm linh. Ở Việt Nam, chùa Phật Quang ở núi Dinh, chùa Hoằng Pháp - Hóc Môn, chùa Bát Nhã - Bảo Lộc đã xuất hiện những vị tu sĩ tài năng đức hạnh, có chiều hướng hoán chuyển đầy sáng tạo để trực tiếp giảng dạy giáo lý cứu khổ của Ðức Thế Tôn. Tinh thần bảo thủ của một số tôn túc chỉ biết lo chùa to phật lớn, tranh giành chức vị trong giáo hội, chia chẻ sinh hoạt thuần túy “Bi Trí Dũng” của gia đình phật tử sẽ bị thời gian đào thải. Chùa chiền rồi cũng sẽ vắng tanh đi đến phá sản như một số nhà thờ bên Mỹ hiện tại vì không đem lại hạnh phúc thiết thực trong cuộc sống mà chỉ hứa hẹn một niết-bàn hay thiên đàng mơ hồ trên mây.

    Ðạo Phật của thế kỷ 21 cần có những ngôi sao xuất hiện như Thầy Hằng Trường thiết thực đem lại an vui hạnh phúc, chuyển hóa những khổ đau của thân và tâm ngay trong cuộc sống hiện tại vậy.

    Nguyên Ân
    No_avatar

    Xin cho hỏi: làm sao có thể xem được video hướng dẫn tập CKTL của Thầy Hằng Trường . 

     

     
    Gửi ý kiến

    Chọn hướng nhà tốt nhất theo Phong Thủy